Tổng quan

Các tham luận trong tập này được chuẩn bị làm nền cho hội nghị về các vấn đề kinh tế vĩ mô lớn mà các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) phải đối mặt, được tổ chức tại Jakarta, Indonesia, vào ngày 7-8 tháng 11 năm 1996. Hội nghị nhằm xem xét hồ sơ kinh tế vĩ mô của các nước ASEAN, xem xét các yếu tố đã đóng góp vào thành công kinh tế của khu vực và xác định chương trình nghị sự chính sách để duy trì thành công này trong thế kỷ XXI. Các tài liệu cơ bản xem xét các vấn đề chính sách lớn và bổ sung bằng chứng thực nghiệm trong các lĩnh vực chính như tiết kiệm, đầu tư và tài khoản vãng lai; chính sách tiền tệ, tự do hóa tài chính và phát triển thị trường vốn; và triển vọng trung hạn.

asean

Bạn Đang Xem: Các vấn đề kinh tế vĩ mô mà các nước ASEAN phải đối mặt

Phần tổng quan này cung cấp một số thông tin cơ bản về khu vực, tóm tắt các tham luận và chuyển tải ngắn gọn những điểm chính của cuộc thảo luận tại hội nghị.

Tiểu sử

Các quốc gia ASEAN – Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam – đứng ở trung tâm của khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, và kết quả hoạt động của họ là một phần của “phép màu” châu Á đã đã được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Khu vực này chiếm khoảng 7 1/2 phần trăm dân số thế giới và tỷ trọng sản lượng thế giới đang tăng lên nhanh chóng.

Thành tựu kinh tế của các nước trong khu vực này trong 1/4 thế kỷ qua có rất ít song song. Nhờ tăng trưởng kinh tế bền vững và mạnh mẽ kể từ năm 1970, Singapore hiện đã đứng vào hàng ngũ các nước công nghiệp giàu có, trong khi Indonesia, Malaysia và Thái Lan chứng kiến ​​thu nhập bình quân đầu người thực tế của họ tăng hơn ba lần trong giai đoạn này (Bảng 1). Gần đây, Philippines cũng đã chứng kiến ​​tốc độ tăng trưởng của mình tăng gần với tốc độ tăng trưởng của các nước khác trong khu vực.

 

Bảng 1. Tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người ở các nước ASEAN được chọn
 
GDP trên mỗi Capita
(năm 1996
đô la Mỹ)
Tăng trưởng GDP thực tế
bình quân hàng năm; tính bằng phần trăm)

Tư vấn học bơi và đăng ký học bơi tại HCM, vui lòng liên hệ: Hotline: 0762.319.319 hoặc Facebook: /swimtobelive

GDP trên mỗi Capita
(năm 1996
đô la Mỹ)
1970
1971-79 1980-89 1990-96
1996

Indonesia 338 7.8 5.3 8.0 1.119
Malaysia 1.503 8.1 5,8 8.7 4.652
Phi-líp-pin 663 6,3 2.0 2,7 1.179
Singapore 3,328 9.1 7.3 8,3 31.787
nước Thái Lan 658 7.1 7.4 8.8 3.116

Nước công nghiệp
11.551 3,4 2,7 1,9 27.078
Tây bán cầu 2.752 6.2 2.3 2,7 3.530
Châu Phi cận Sahara 541 3,4 2,9 2,5 332

Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Triển vọng Kinh tế Thế giới: Nghiên cứu của Nhân viên (Washington, các vấn đề khác nhau); và ước tính của nhân viên IMF.

Ở hầu hết các khu vực, tốc độ tăng trưởng nhanh này cũng đi kèm với việc giảm nghèo đáng kể. Do đó, Malaysia hầu như đã có thể xóa bỏ tỷ lệ đói nghèo, trong khi Indonesia và Thái Lan cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực trọng điểm này (Hình 1).

Tỷ lệ nghèo đói tuyệt đối
Một đặc điểm nổi bật của thành công kinh tế của khu vực là tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư đặc biệt cao, thể hiện sự chênh lệch ngày càng tăng so với phần còn lại của thế giới. Hiệu suất tiết kiệm ngày càng mạnh mẽ đã phản ánh sự đóng góp của cả khu vực tư nhân và khu vực công. Ngoài ra, các quốc gia này đã có thể khai thác thành công các khoản tiết kiệm nước ngoài bổ sung để bổ sung cho nỗ lực trong nước vốn đã đáng gờm của họ.

Mặc dù các quốc gia có sự khác biệt đáng kể về điều kiện xuất phát, thiên nhiên ưu đãi và kinh nghiệm cá nhân, nhưng vẫn có sự chấp nhận rộng rãi các thiết lập chính sách quan trọng đã góp phần vào nền tảng kinh tế mạnh mẽ của khu vực:

  • Thứ nhất, có lẽ là yếu tố bao trùm, các chính sách tài chính theo định hướng ổn định vĩ mô đã giúp giữ cho lạm phát ở mức thấp và kiểm soát được các mất cân đối bên ngoài.
  • Thứ hai, chiến lược thân thiện với thị trường và hướng ra bên ngoài, với các chế độ bên ngoài tự do duy trì các vị thế cạnh tranh nói chung là mạnh mẽ.
  • Thứ ba, sự can thiệp cẩn thận của chính phủ trong một số lĩnh vực – chẳng hạn như các chương trình chống vượt cấp – đã giải phóng một vòng tròn mạnh mẽ về chi tiêu của chính phủ (đặc biệt là cho giáo dục và y tế), năng suất và tăng trưởng giúp đảm bảo tính bền vững về kinh tế và chính trị của cải cách quy trình tại các quốc gia này.
  • Cuối cùng, ít nhất một đặc điểm khác biệt khác của kinh nghiệm ASEAN đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các thiết lập chính sách này. Việc các nước này sẵn sàng điều chỉnh chính sách một cách linh hoạt và nhanh chóng trước những thách thức và hoàn cảnh kinh tế đang thay đổi đã cho phép chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế trong khi vẫn duy trì được nguyên vẹn nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc.

Những thách thức gần đây

Trong những năm gần đây, trước xu thế toàn cầu hóa của thị trường tài chính quốc tế, các nước ASEAN phải đối mặt với những thách thức lớn mới. Bản chất của những thách thức này và tác động của chúng đến hoạt động kinh tế vĩ mô trong khu vực là một số vấn đề được xem xét trong bài phát biểu khai mạc của Bộ trưởng Tài chính Indonesia Mar’ie Muhammad tại hội nghị, cũng như trong bài phát biểu của Giám đốc điều hành IMF Michel Camdessus (Chương 2 và 3).

Kết quả của những thách thức này, đặc biệt là sự tương tác của dòng vốn lớn với nhu cầu trong nước mạnh, thâm hụt tài khoản vãng lai nước ngoài đã tăng trong khu vực cao hơn mức trung bình của những năm trước, và áp lực lên tín dụng của khu vực tư nhân và giá cả trong nước cũng tăng lên (Bảng 2). Người ta chú ý nhiều hơn đến những rủi ro gia tăng liên quan đến thâm hụt bên ngoài gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh độ mở của các nền kinh tế trong khu vực và sự dịch chuyển của vốn quốc tế. Mặc dù nhiều nền tảng kinh tế cơ bản mạnh mẽ truyền thống của khu vực – chẳng hạn như vị thế tài chính và tiết kiệm trong nước – nhìn chung vẫn còn nguyên vẹn, đã có một số xói mòn trong các chỉ số khác và sự biến động lớn hơn trên thị trường hối đoái. Ví dụ,

Bảng 2. Các nước ASEAN được lựa chọn: Các Chỉ số Kinh tế và Tài chính
(Trung bình, tính theo phần trăm GDP trừ khi có chỉ định khác)
Indonesia


Malaysia


Philippines 1


nước Thái Lan


  1991-95 1996 1991-95 1996 1991-95 1996 1991-95 1996

Tăng trưởng, đầu tư và tiết kiệm
  Tốc độ tăng trưởng GDP 7.8 7.8 8.7 8.2 2,2 5.5 8,4 6,7
  Sự đầu tư 31.0 32,7 38,7 41,2 21,9 23,9 41,5 42,5
    Riêng tư 23.1 27.4 25.3 28,6 16.8 19,2 33.4 33.0
    Công cộng 7.9 5.3 13.4 12,6 5.2 4,7 8.1 9.5
  Tiết kiệm quốc gia 28,6 29.3 32.3 36.0 18,2 19.8 34.8 34,5
    Riêng tư 20,9 23.0 16.1 21,5 15.0 15,5 22.3 21,2
    Công cộng 7.7 6,3 16,2 14,5 3.2 4.3 12,5 13.3
Định hướng thương mại
  Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ phi nhân tố 26,5 26,2 84,9 92.0 26.3 33.3 42,5 40,9
  Sản xuất hàng xuất khẩu 12,8 13.3 55,9 63,5 15,5 19.8 25,6 24,7
  Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu (giá trị tính theo đô la Mỹ) 11.4 10.3 20.3 5,8 16,6 17,8 19,7 1,3
Tỷ giá
  Tỷ giá hối đoái hiệu dụng thực (phần trăm thay đổi trong
thời kỳ; tăng giá (-)) 2
-3,3 -5,1 -7,8 -4,2 -36,9 -5,9 -4,7 -5,2
Cán cân thanh toán (tính bằng phần trăm GDP)
  Thâm hụt tài khoản vãng lai -2,4 -3,6 -6,5 -5,2 -3,6 -4,1 -6,7 -8.0
  Dòng vốn vào (ròng) 3 4.0 5.2 11,5 7.7 3.8 8.9 10.4 9.2
    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tính theo phần trăm dòng vốn vào) 34,6 53,8 81,5 50,7 51.1 16.0 11.4 10,2
  Dự trữ (trong tháng nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ) 6.2 6.0 4.3 3,4 2,5 2,8 5.2 5.1
  Dự trữ tiền cơ sở 0,5 0,6 0,5 0,7 1.1 0,9 0,4 0,5
  Dự trữ tiền rộng rãi 4.3 4.8 3.7 4,9 3.2 2,9 3.8 3.8
Nợ nần
  Nợ nước ngoài (tính theo phần trăm xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ) 191,5 178,5 43,8 40.3 168,2 103,6 105,5 118,6
  Nợ ngắn hạn (phần trăm nợ nước ngoài) 7.7 8.5 18,2 23,7 15,2 13,8 44.4 43,6
  Tỷ lệ nợ – dịch vụ (tính theo phần trăm
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ)
32.4 32,8 6,7 5,7 25.4 15.4 10,9 11.4
Ổn định tài chính
  Lạm phát (trung bình hàng năm; phần trăm thay đổi) 8.9 7.9 4.0 3.5 10,5 8,4 4.8 5.9
  Tín dụng khu vực tư nhân (phần trăm thay đổi) 21.0 22.4 18,2 26,5 43.1 51.0 23,8 14,6
  Cân đối của chính phủ trung ương (tính theo phần trăm GDP) -0,2 1,0 0,1 0,7 -1,6 -0,4 2,8 2.3
  Nợ công (tính bằng phần trăm GDP) 37,2 27,7 21,8 15,9 113.0 88.0 17,2 10.1

Nguồn: IMF, Triển vọng Kinh tế Thế giới: Nghiên cứu của Nhân viên (Washington, các vấn đề khác nhau) và ước tính của nhân viên IMF.
1 Tất cả các tỷ lệ đều tính bằng phần trăm GNP, trừ khi có chỉ định khác.
2 Đối với năm 1996, tháng 12 năm 1996 đến tháng 12 năm 1995.
3 Bao gồm các lỗi và thiếu sót.

Do đó, cơ cấu chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước ASEAN đã được giám sát chặt chẽ hơn và việc tìm kiếm một chiến lược để giảm thiểu rủi ro và duy trì hoạt động mẫu mực của khu vực đã tăng cường. Bài phát biểu của ông Camdessus chỉ ra một số thành phần của chiến lược như vậy, bao gồm tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước, giảm gánh nặng cho chính sách tiền tệ thông qua việc áp dụng một cách tiếp cận đầy tham vọng để củng cố tài khóa, tăng tính linh hoạt trong chính sách tỷ giá hối đoái, củng cố hệ thống ngân hàng, thúc đẩy sự minh bạch hơn và thúc đẩy quản trị tốt trong các công việc của nhà nước. Những vấn đề này là chủ đề chính của các bài tham luận cũng như thảo luận tại hội nghị.

Tiết kiệm, Đầu tư và Tài khoản Hiện tại

Jonathan OstryBài báo về tình trạng mất cân bằng tài khoản vãng lai ở các nước ASEAN đánh giá tính bền vững của việc gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai trong khu vực trong những năm 1990. Sử dụng mô hình làm mượt tiêu dùng, Ostry kiểm tra xem thâm hụt tài khoản vãng lai (đến năm 1994) có phản ánh việc vay mượn bên ngoài quá mức để tiêu dùng hay không, tức là liệu tiết kiệm nước ngoài có được sử dụng để tài trợ cho tiêu dùng vượt quá mức được đảm bảo bởi những biến động nhất thời trong thu nhập trong nước hay không. Kết luận của ông là đây không phải là kinh nghiệm của khu vực ASEAN và thâm hụt chủ yếu phản ánh mức đầu tư cao hơn là tiêu dùng tư nhân quá mức. Tuy nhiên, Ostry nhấn mạnh rằng việc giảm thâm hụt tài khoản vãng lai theo thời gian sẽ giảm thiểu rủi ro từ các yếu tố khác mà thị trường tài chính đánh giá tính bền vững.

Các tài liệu của Geoffrey Bascand và Assaf Razin, về quan điểm tài chính của Indonesia, và của Philip Gerson và David Nellor,về chính sách tài khóa của Philippines, xây dựng một số tiêu chí để đánh giá tính bền vững tài khóa ở các nước này, tương tự như các tiêu chí về tính bền vững đối với thâm hụt tài khoản vãng lai nước ngoài. Các bài báo kết luận rằng các vị thế tài khóa là bền vững ở cả hai quốc gia này; đối với Indonesia, Bascand và Razin đưa ra kết luận sau khi điều chỉnh mức độ cạn kiệt của trữ lượng dầu và tham khảo đánh giá giá trị ròng của chính phủ. Tuy nhiên, các bài báo nhận thấy rằng việc củng cố tài khóa bổ sung sẽ là điều cần thận trọng để tăng cường tính bền vững bên ngoài ở cả hai quốc gia, cũng như giảm khả năng dễ bị tổn thương của họ trước các cú sốc bên ngoài.

Xem Thêm : Thanh khoản chứng khoán giảm sâu có thể do dòng vốn ‘dễ dãi’ rút đi

Bài báo so sánh hiệu quả tiết kiệm ở Đông Nam Á và Mỹ Latinh, của Anuradha Dayal-Gulati và Christian Thimann, củng cố kết luận của các bài báo khác, cụ thể là chính sách tài khóa đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ lệ tiết kiệm quốc gia do tiết kiệm công trong khu vực chỉ lấn át một phần tiết kiệm cá nhân. Bài báo của họ cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm sâu rộng về sự đóng góp mạnh mẽ của các chính sách kinh tế vĩ mô đối với mức tiết kiệm tư nhân cao trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, Dayal-Gulati và Thimann cũng cảnh báo rằng các biện pháp chính sách nhằm nâng cao tiết kiệm tư nhân thường có tác dụng trong dài hạn, do đó cung cấp thêm lý do cho sự đóng góp lớn hơn từ tiết kiệm công trong thời gian tới.

Gabriel Singson của Philippines , trong bài trình bày chính tại hội nghị, tập trung vào nhiều vấn đề trong số này, đặc biệt là tính bền vững của thâm hụt bên ngoài trong khu vực ASEAN, sự cân bằng phù hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, và phạm vi của chính sách tài khóa đóng góp lớn hơn vào việc giảm thâm hụt này. Singson, rút ​​kinh nghiệm của Philippines, nhấn mạnh mối liên hệ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, đồng thời nhận thấy mối nguy hiểm trong một hỗn hợp chính sách phụ thuộc quá nhiều vào chính sách tiền tệ để giảm tài khoản vãng lai. Ông chỉ ra tầm quan trọng của cải cách thuế ở Philippines trong việc tạo tín nhiệm cho quá trình điều chỉnh kinh tế vĩ mô tổng thể, nhấn mạnh rằng điều này đòi hỏi sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ.

Trong cuộc thảo luận, ông Robby Djohan của Indonesia đã nhấn mạnh tầm quan trọng đáng kể của thị trường tài chính đối với tính bền vững của tài khoản vãng lai. Djohan xem tăng trưởng xuất khẩu, thành phần của tăng trưởng nhập khẩu, cấu trúc của dòng vốn, độ tin cậy của tỷ giá hối đoái và mức dự trữ là những yếu tố quan trọng chi phối rủi ro liên quan đến thâm hụt bên ngoài trong khu vực. Ông nhấn mạnh rằng các nhà hoạch định chính sách có thể đóng góp vào sự bền vững bằng cách đảm bảo rằng các chính sách minh bạch, việc thực hiện nhất quán, khu vực tư nhân được trao vai trò chủ đạo và các chính sách thương mại và đầu tư thúc đẩy sự cởi mở.

Cả Somchai Richupan của Thái Lan và Dono Iskandar của Indonesia đều tập trung vào tầm quan trọng của chính sách tài khóa trong sự kết hợp của các biện pháp giảm thâm hụt tài khoản vãng lai. Iskandar lưu ý rằng việc điều chỉnh tài khóa ở Indonesia cũng phải đối mặt với tầm quan trọng ngày càng giảm của nguồn thu từ dầu mỏ và điều này đòi hỏi nỗ lực cải cách thuế, ưu tiên chặt chẽ các khoản chi và cung cấp vai trò lớn hơn cho khu vực tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, Richupan cũng chỉ ra những cải cách nhằm cải thiện thu ngân sách ở cấp tiểu bang và địa phương ở Thái Lan.

David Robinson của IMF đã cung cấp thêm nền tảng về các yếu tố quyết định tiết kiệm tư nhân trong khu vực, lưu ý rằng trong ngắn hạn, tỷ lệ phụ thuộc sẽ tiếp tục giảm ở một số quốc gia trong khu vực, điều này sẽ giúp thúc đẩy tiết kiệm tư nhân. Ông nói rằng một môi trường kinh tế vĩ mô hỗ trợ, duy trì lợi nhuận cạnh tranh từ các công cụ tiết kiệm tài chính và sự phát triển của các chương trình hưu trí được tài trợ đầy đủ là những con đường đầy hứa hẹn để tăng tiết kiệm tư nhân trong khu vực. Tuy nhiên, do tác động của chúng có thể chỉ được cảm nhận với độ trễ tương đối dài, Robinson coi chính sách tài khóa là công cụ hiệu quả nhất để tăng tiết kiệm quốc gia và giảm thâm hụt tài khoản vãng lai trong thời gian tới.

Cuộc thảo luận tập trung vào cả chính sách thuế và chi tiêu như những cách để tăng cường tiết kiệm công. Nhiều diễn giả đánh giá rằng những cải tiến trong hệ thống quản lý thuế và thu thuế có thể đóng góp mạnh mẽ. Một số diễn giả chỉ ra rằng tỷ lệ thu thuế trên GDP vẫn còn thấp trong khu vực – thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia khác – và nhận thấy doanh thu tăng nhờ mở rộng cơ sở thuế và quản lý thuế hiệu quả hơn là những kênh quan trọng để tăng cường tiết kiệm công. Đối với chi tiêu của chính phủ, đã có thỏa thuận rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ phải cân nhắc cẩn thận các tuyên bố cạnh tranh quan trọng để có thêm chi tiêu cho cơ sở hạ tầng vật chất và con người thay vì cho các hoạt động khác.

Chính sách tiền tệ, tự do hóa tài chính và phát triển thị trường vốn

Hai trong số các tài liệu cơ bản nghiên cứu những thay đổi đáng kể đã diễn ra trên thị trường tài chính và vốn trong khu vực ASEAN kể từ đầu những năm 1980 và tác động của chúng đối với việc cung cấp tài chính cho hoạt động kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ.

Bài báo của Robert Dekle và Mahmood Pradhan về tự do hóa tài chính và nhu cầu tiền tệ ở các nước ASEAN xem xét các bằng chứng thực nghiệm chỉ ra sự bất ổn tiếp tục trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tiền tệ, hoạt động kinh tế và lạm phát. Phân tích của họ cho thấy rằng các nhà hoạch định chính sách cần phải nhìn xa hơn hành vi của tổng tiền tệ – đến một tập hợp rộng hơn các chỉ số tiền tệ và khu vực thực – để đánh giá các điều kiện tiền tệ. Bài báo của họ đánh giá tính khả thi của các khuôn khổ chính sách thay thế, chẳng hạn như mục tiêu thu nhập danh nghĩa và mục tiêu lạm phát, và gợi ý rằng độ tin cậy của chính sách sẽ được nâng cao nhờ sự minh bạch hơn trong việc đưa ra các quyết định chính sách tiền tệ.

Tim Callen và Patricia Reynolds, trong bài báo của họ về phát triển thị trường vốn và bãi bỏ quy định tài chính, xem xét những vấn đề này từ góc độ bổ sung của việc tài trợ cho hoạt động kinh tế ở Malaysia và Thái Lan. Họ nhận thấy rằng đầu tư và tăng trưởng nhanh chóng có liên quan đến sự thay đổi nguồn tài chính của doanh nghiệp từ nguồn vốn nội bộ sang nguồn vốn bên ngoài tạo ra, phù hợp với xu hướng ở những nơi khác trên thế giới. Callen và Reynolds nhấn mạnh nhu cầu giám sát chặt chẽ các xu hướng và phát triển trong tương lai ảnh hưởng đến tỷ lệ đòn bẩy doanh nghiệp, sự tăng trưởng của thị trường trái phiếu trong nước và những thay đổi trong cơ cấu danh mục cho vay ngân hàng, như một phần của quản lý tiền tệ hiệu quả.

Bài báo của John Montgomery xem xét tác động của tự do hóa tài chính đối với hệ thống tài chính của Indonesia. Nó đánh giá kinh nghiệm chung về tự do hóa tài chính ở các quốc gia khác và chỉ ra khả năng tự do hóa như vậy có thể làm tăng rủi ro cho các quyết định cho vay kém của các ngân hàng trong nước. Montgomery xác định các vấn đề chính sách quan trọng cần tập trung để cải thiện hơn nữa hiệu quả hoạt động của các thị trường và tổ chức tài chính ở Indonesia. Những điều này bao gồm yêu cầu giải quyết nhanh chóng vấn đề ngân hàng thiếu vốn, cải thiện việc giám sát và quản lý thị trường ngân hàng và chứng khoán, tăng cường và mở rộng cơ cấu cạnh tranh và cơ sở nhà đầu tư trong nước của các thị trường này.

Dòng vốn chảy vào nhiều nước đang phát triển gần đây, đặc biệt là ở châu Á và châu Mỹ Latinh, có liên quan đến thâm hụt tài khoản vãng lai gia tăng và lo ngại về việc tăng tỷ giá hối đoái. Peter MontielBài báo về chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý kinh tế vĩ mô ở các nước ASEAN xem xét tác động của dòng vốn quy mô lớn đến tỷ giá hối đoái thực tế hiệu quả trong khu vực. Montiel nhận thấy rằng, không giống như ở Mỹ Latinh, đợt dòng vốn gần đây không dẫn đến việc tăng tỷ giá hối đoái thực tế hiệu quả trong dài hạn ở các nước ASEAN. Tỷ giá cân bằng được đánh giá cao ở Singapore sau khoảng năm 1987 và ở Philippines sau năm 1990, nhưng ổn định hoặc tiếp tục giảm ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Montiel không tìm thấy bằng chứng về sự chênh lệch tỷ giá hối đoái thực của bất kỳ quốc gia nào trong mẫu vào cuối năm 1994.

Nhiều chủ đề trong số này đã được thảo luận rộng rãi tại hội nghị, đặc biệt là tác động của những thay đổi cơ cấu trong môi trường tài chính của các nước ASEAN (bao gồm cả chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái), và tác động đến hệ thống tài chính trong nước. Soedradjad Djiwandono của Indonesia , trong bài trình bày chính của mình, đã chỉ ra những bất ổn trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tiền tệ, hoạt động kinh tế và lạm phát, gây ra bởi những thay đổi về cơ cấu, khiến chính sách tiền tệ ở Indonesia được thực hiện với tham chiếu đến một loạt các biến tài chính. Amando Tetangco của Philippinescho rằng chính những bất ổn tương tự đã kích thích sự phát triển của một hình thức lạm phát mục tiêu ở Philippines, vốn đã kết hợp tính linh hoạt đối với dòng vốn vào và các chỉ số về chiều sâu tài chính. Tetangco nói rằng chế độ này đã hoạt động tốt cho đến nay, với lạm phát nhìn chung ở mức thấp, lãi suất ít thay đổi và giảm, và tỷ giá hối đoái ổn định.

Đối với tỷ giá hối đoái, Soedradjad lưu ý rằng sự gia tăng tính di động và quy mô của dòng vốn quốc tế cũng làm phức tạp việc thực hiện chính sách. Ông chỉ ra sự linh hoạt hơn gần đây trong tỷ giá hối đoái của Indonesia – một biên độ tỷ giá hối đoái thu thập thông tin – như một nỗ lực nhằm giải quyết một số khó khăn do dòng vốn chảy vào và kiểm soát tốt hơn chính sách tiền tệ. Zeti Akhtar Aziz của Malaysiatập trung vào tác động của việc gia tăng dòng vốn ngắn hạn đối với chính sách tiền tệ và nhấn mạnh rằng một chính sách tiền tệ độc lập đòi hỏi sự linh hoạt trong chế độ tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, Zeti chỉ ra rằng mức độ tỷ giá hối đoái cũng rất quan trọng, khiến các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với tình thế khó xử khi cho phép tỷ giá hối đoái điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ theo dòng chảy ngắn hạn. Bà chỉ ra rủi ro tăng vọt trong quá trình này, lưu ý rằng tỷ giá hối đoái biến động nhiều hơn mức mong muốn. Hơn nữa, với chi phí và giới hạn của sự can thiệp vô hiệu, Zeti nhận thấy rằng các biện pháp kiểm soát hành chính đối với dòng vốn ngắn hạn vẫn là một lựa chọn tạm thời trong một số trường hợp nhất định.

Cuộc thảo luận nhấn mạnh đáng kể tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nước lành mạnh, trong đó Soedradjad nhấn mạnh rằng sự yếu kém trong các tổ chức tài chính chuyển thành những ràng buộc bổ sung đối với chính sách tiền tệ. Một số diễn giả lặp lại quan điểm này, với Bandid Nijathaworn của Thái Lanthảo luận về các chính sách cần thiết để bảo vệ các hệ thống tài chính trong một môi trường thay đổi nhanh chóng. Nijathaworn nhấn mạnh, đặc biệt, việc thực thi nghiêm ngặt các yêu cầu về an toàn vốn, giám sát chặt chẽ và đánh giá liên tục mức độ dễ bị tổn thương của hệ thống ngân hàng đối với dòng vốn (cả dòng vào và dòng ra), và nhu cầu tiềm tàng về các biện pháp được thiết kế để ngăn hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng quá mức, cũng như tầm quan trọng của vị thế tài khóa vững chắc như một mỏ neo trong môi trường tài chính đầy biến động. Dựa trên kinh nghiệm của khu vực, Nijathaworn cũng nhấn mạnh rằng tự do hóa tài chính cần được thực hiện dần dần và thận trọng để cơ quan tiền tệ và các tổ chức tài chính có thời gian điều chỉnh.

Xem Thêm : Út Trường TOP 1 dịch vụ sửa ổ khóa tại tỉnh an giang

Tiếp thu chủ đề này, John Hicklin của IMFcũng thảo luận về những rủi ro gia tăng đối với hệ thống ngân hàng do kết quả của tự do hóa tài chính và phát triển thị trường vốn và nhất trí với Nijathaworn rằng cần thực hiện các bước để giảm thiểu những rủi ro này. Hicklin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn và sự cần thiết phải giải quyết nhanh chóng các khoản cho vay kém hiệu quả đang nổi lên. Trong bối cảnh này, các cơ quan chức năng của quốc gia cần thể hiện thiện chí lớn hơn trong việc đóng cửa các tổ chức ngân hàng thất bại trong bối cảnh cải thiện các quy định về an toàn và hướng tới sự minh bạch hơn trong các chỉ số phù hợp với sức mạnh của hệ thống tài chính. Hicklin lưu ý rằng các nhà giám sát sẽ cần tập trung ngày càng nhiều vào khả năng đánh giá rủi ro thị trường của các ngân hàng, bao gồm cả những rủi ro liên quan đến các vị thế phái sinh.

Triển vọng trung hạn

Các tài liệu cơ bản cho phiên cuối cùng của hội nghị, triển vọng trung hạn, đối phó với ASEAN ở góc độ khu vực, cũng như các xu hướng tăng trưởng và năng suất trong tương lai. Bài báo của Jeffrey Frankel và Shang-Jin Wei đánh giá các khía cạnh khu vực về hoạt động của ASEAN, bao gồm vai trò của thương mại và đầu tư nước ngoài trong việc củng cố kỷ lục tăng trưởng kinh tế đáng chú ý của khu vực và triển vọng duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại trên mức trung bình thế giới. Frankel và Wei nhận thấy rằng những triển vọng này sẽ được hỗ trợ bởi một số yếu tố, bao gồm cả việc tiếp tục tăng trưởng năng suất nhanh chóng – điều này sẽ được thúc đẩy một phần nhờ tự do hóa thương mại hơn nữa cũng như sự hội nhập đầy đủ của các nền kinh tế đang chuyển đổi của Đông Nam Á với phần còn lại của thế giới.

Trong bài báo của Flemming Larsen và Jahangir Aziz, mức độ cởi mở đối ngoại cao của các nền kinh tế ASEAN cũng được coi là một trong những ảnh hưởng khác .trong bối cảnh so sánh chu kỳ kinh doanh của ASEAN với chu kỳ kinh doanh của các nước công nghiệp cũng như nhìn vào sự hội tụ tăng trưởng trong tương lai của các nước ASEAN. Bài báo tìm thấy một số bằng chứng về sự tách rời chu kỳ kinh doanh ở các nước ASEAN khỏi chu kỳ kinh doanh trong thế giới công nghiệp, một phần là do sự năng động ngày càng tăng của thương mại nội vùng và các tương tác kinh tế khác. Về sự hội tụ, mức độ “bắt kịp” đáng kể của nhóm ASEAN với thế giới công nghiệp đã diễn ra – mặc dù với sự đa dạng đáng kể về kinh nghiệm giữa các nước ASEAN. Trên cơ sở các xu hướng hiện tại, bài báo kết luận rằng mức thu nhập bình quân ở các nước ASEAN sẽ đạt mức thu nhập bình quân đầu người năm 1995 của Nhật Bản vào năm 2010.

Bài báo của Michael Sarel về tăng trưởng và năng suất đánh giá các nguồn tăng trưởng trong các nền kinh tế ASEAN, đặc biệt là vai trò của năng suất các yếu tố tổng thể, lấy làm cơ sở cho một số nghiên cứu gần đây đã kết luận rằng tốc độ tăng năng suất các yếu tố tổng hợp ở các nền kinh tế châu Á không gần như ngoạn mục bằng tốc độ tăng trưởng sản lượng của họ. Sử dụng một phương pháp luận và cơ sở dữ liệu thay thế, Sarel thấy rằng tăng trưởng năng suất các nhân tố thực sự rất ấn tượng ở một số quốc gia ASEAN và tỷ lệ tăng trưởng sản lượng trên đầu người do sự tăng trưởng đó không khác nhau một cách có hệ thống ở các nền kinh tế ASEAN và Hoa Kỳ.

Phiên cuối cùng của hội nghị, với một hội nghị bàn tròn gồm các diễn giả từ khu vực ASEAN và IMF, tập trung vào triển vọng kinh tế trung hạn. Nhiều người nhất trí rằng triển vọng đối với các nước ASEAN sẽ tiếp tục tích cực với điều kiện là quản lý kinh tế vĩ mô vẫn linh hoạt và thận trọng, các chính sách kinh tế vẫn theo định hướng thị trường và các áp lực gần đây đối với hệ thống tài chính được giải quyết nhanh chóng. Ngoài ra, để duy trì tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp trong trung hạn sẽ đòi hỏi phải tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng và giáo dục, với vai trò lớn hơn của khu vực tư nhân trong các lĩnh vực này.

Jack Boorman của IMF đã xem xét mô hình cơ bản cho tăng trưởng, được chắt lọc từ kinh nghiệm của các nền kinh tế ASEAN, cũng như những thách thức mới trong một thế giới toàn cầu hóa hơn. Cả Boorman và Tan Sri Datuk Clifford Herbert của Malaysia đều cảnh báo chống lại sự tự mãn, lưu ý rằng sự chấp nhận của quốc tế đối với mô hình cơ bản là tương đối gần đây.

Đặc biệt, Tan Sri Datuk Herbert nhấn mạnh rằng ngân sách cân đối cần được bổ sung thông qua việc tăng tốc các chương trình tư nhân hóa, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới, chẳng hạn như y tế và giáo dục. Với điều kiện là có đủ các biện pháp bảo vệ theo quy định, khu vực tư nhân có thể đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong những lĩnh vực này. Đồng thời, để duy trì tăng trưởng chất lượng cao, chi tiêu của chính phủ cần được hướng nhiều hơn vào phát triển nguồn nhân lực, chi cho nghiên cứu và phát triển và các nhu cầu xã hội của người nghèo. Trong lĩnh vực quản trị cũng vậy, cần có sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân vào quá trình ra quyết định. Điều này sẽ giúp thúc đẩy hiệu quả và tính chuyên nghiệp trong khu vực công và tạo niềm tin vào hệ thống quản trị bằng cách hạn chế tham nhũng. Trong ngữ cảnh này, Boorman cũng chỉ ra sự cần thiết phải loại bỏ các khoản chi ngoài ngân sách và tăng tính minh bạch của các chính sách tài khóa; cải thiện việc phổ biến dữ liệu; tăng cường các tiêu chuẩn giám sát ngân hàng; và loại bỏ các cơ chế thể chế như chỉ số hóa có thể kéo theo kỳ vọng lạm phát và lạm phát. Trong nhiều lĩnh vực như vậy, Boorman nói rằng IMF đã sẵn sàng đóng một vai trò quan trọng thông qua hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường các nỗ lực giám sát.

Boorman cũng kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trong khu vực phổ biến kinh nghiệm của họ cho các nước đang phát triển khác, lưu ý rằng một số nơi trên thế giới vẫn còn lưỡng lự trong việc chấp nhận mô hình cơ bản của khu vực ASEAN. Ông lưu ý rằng các nước ASEAN có thể cung cấp lời khuyên chính sách và hỗ trợ kỹ thuật có giá trị, đặc biệt là cho các nước ở châu Phi, về quản lý kinh tế vĩ mô và về cách hạn chế tác động xuyên tạc của sự can thiệp của nhà nước. Trong ASEAN, mô hình này cũng bị tấn công trong một số quý, nhưng vì những lý do sai lầm. Sự quan tâm không đầy đủ đến việc tăng cường năng lực thể chế, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, đã tạo ra những vấn đề mới, chẳng hạn như tội phạm và rửa tiền, cần được giải quyết.

Theo Yukio Yoshimura của Nhật Bản, nhu cầu ngày càng tăng về tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng đã không còn .đã nhận được sự quan tâm đầy đủ. Do những hạn chế về tài chính công, trong khu vực có kỳ vọng rằng khu vực tư nhân sẽ ngày càng tài trợ nhiều hơn cho các dự án cơ sở hạ tầng, nhưng cho đến nay, tiết kiệm trong nước vẫn chưa được chuyển sang phát triển cơ sở hạ tầng. Thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong khu vực sẽ giúp tăng nguồn vốn của khu vực tư nhân cho cơ sở hạ tầng và giảm bớt gánh nặng tài chính. Tài chính tư nhân cũng sẽ tăng cường hiệu quả và tài trợ nước ngoài sẽ đẩy nhanh việc chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp. Tuy nhiên, các chính phủ sẽ cần đề phòng những tác động bất lợi của dòng vốn tư nhân lớn đối với tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ, đồng thời duy trì một môi trường pháp lý và giá cả cạnh tranh để đảm bảo rằng các dự án được tài trợ trên cơ sở các tiêu chí thị trường.

Teh Kok Peng của Singaporenhấn mạnh các yêu cầu dài hạn của việc duy trì tăng trưởng bền vững ở các nước ASEAN, đặc biệt là các yêu cầu liên quan đến việc duy trì chất lượng của các yếu tố đầu vào. Mặc dù phần lớn cuộc tranh luận gần đây về tăng trưởng Đông Á tập trung vào tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp, đặc biệt là về việc Krugman cho rằng tăng trưởng của nó là không đáng kể (và trong một số trường hợp, chẳng hạn như Singapore, là tiêu cực), Teh đề nghị rằng các nhà hoạch định chính sách không nên quá lo lắng về tăng trưởng được thúc đẩy chủ yếu bởi tích lũy các yếu tố. Thay vào đó, thách thức phía trước là đảm bảo dành đủ quỹ cho phát triển nguồn nhân lực. Các nước ASEAN so sánh tốt với các nền kinh tế mới công nghiệp hóa về tỷ lệ dân số đi học tiểu học, nhưng lại tụt hậu đáng kể về trình độ trung học và đại học.

Sự cải thiện bền vững về kết quả hoạt động kinh tế ở Việt Nam trong mười năm qua là nhờ tư cách thành viên ASEAN và sự hội nhập sâu rộng hơn với khu vực. Lê Đăng Doanh của Việt Namđiểm lại những cải cách kinh tế gần đây ở Việt Nam, nhấn mạnh rằng, mặc dù còn nhiều việc phải làm – đặc biệt là duy trì động lực trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường – điều hành kinh tế vĩ mô thận trọng đã giúp giảm lạm phát, thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế nói chung. Tiết kiệm ở Việt Nam vẫn thấp hơn các nước ASEAN khác, và điều này sẽ hạn chế tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng và chi tiêu cho giáo dục và y tế. Tuy nhiên, Chính phủ rất mong muốn khuyến khích khu vực tư nhân đóng vai trò lớn hơn trong các lĩnh vực này. Ông Lê Đăng Doanh tin tưởng rằng việc tiếp tục nỗ lực cải cách khung pháp lý và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính sẽ nâng cao hơn nữa hoạt động kinh tế trong trung hạn.

Flemming Larsen của IMFnhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của ASEAN trong nền kinh tế thế giới và bản chất đang thay đổi của các mối liên kết thương mại và tài chính giữa các nước đó và các nước công nghiệp, các chủ đề chính trong bài nghiên cứu của ông. Trong khi trong những năm 1970 và 1980, chu kỳ kinh doanh ở các nước ASEAN chuyển dịch chặt chẽ với chu kỳ kinh doanh của các nước công nghiệp, kể từ cuối những năm 1980, tăng trưởng của khu vực ASEAN ít bị ảnh hưởng bởi những biến động trong hoạt động kinh tế ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Larsen đã trích dẫn một số yếu tố dẫn đến sự tách rời chu kỳ kinh doanh giữa ASEAN và thế giới công nghiệp, bao gồm sự gia tăng bền vững trong thương mại, cả nội vùng và với các khu vực của các nước đang phát triển khác, và bản chất ngược vòng tuần hoàn của dòng vốn từ các nước công nghiệp. Hơn thế nữa,


* Lưu ý: John Hicklin là Trợ lý Giám đốc, David Robinson là Giám đốc Bộ phận, và Anoop Singh là Phó Giám đốc Ban Châu Á và Thái Bình Dương của IMF.

Nguồn:https://www.imf.org/external/pubs/nft/macro/overview.htm

Chú ý: Trung tâm dạy bơi tại Hồ Chí Minh Swim To Be Live có hơn 70 HLV bơi chuyên nghiệp, dạy bơi cho trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 6 tuổi và trẻ dưới 15 tuổi, day bơi cho người lớn. Để được tư vấn nhanh và đăng ký học vui lòng liên hệ swimtobelive@gmail.com Hoặc qua số Hotline: 0762.319.319